Đánh giá tài chính cho vay và tài chính đảm bảo trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam (phần 3)

Năm 2017 giảm xuống 45% vào năm 2018 và 40% vào năm 2019. Ngân hàng nhà nước kỳ vọng rằng cả hai biện pháp này sẽ làm giảm cho vay vào lĩnh vực bất động sản do các khoản cho vay trong lĩnh vực này có xu hướng trung hoặc dài hạn.

Một phần do các giới hạn áp dụng đối với tăng trưởng tín dụng trong nước, việc tiếp cận các khoản vay ngân hàng trong nước gặp khó khăn và vay nợ nước ngoài tăng mạnh trong những năm gần đây, đạt 44,8% GDP năm 2016, 48,9% năm 2017 và 49,7% năm 2018.4 Trong Năm 2019, vay nợ nước ngoài chiếm khoảng 45,8% GDP.5

Đáng chú ý, ngày 4/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11 / CT-TTg với gói tín dụng 250.000 tỷ đồng từ ngân hàng thương mại thay cho ngân sách nhà nước để hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh và đảm bảo an sinh xã hội, ứng phó với đại dịch covid-19.

Đánh giá tài chính

Mặc dù có xu hướng tích cực về tăng trưởng vay trong nước và vay nước ngoài, nhưng thị trường cho vay doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn còn sớm. Hầu hết các khoản vay hợp vốn nước ngoài sử dụng hình thức Hiệp hội Thị trường Cho vay Châu Á Thái Bình Dương (APLMA). Các điều khoản nhất định của biểu mẫu APLMA đã được các ngân hàng và công ty luật áp dụng và sử dụng tại Việt Nam; tuy nhiên, không có mẫu chuẩn nào cho các giao dịch trong nước. Người cho vay ở Việt Nam hầu hết là các ngân hàng truyền thống và các tổ chức tín dụng được ngân hàng nhà nước cấp phép hoạt động kinh doanh ngân hàng. Cũng không có thị trường được thiết lập để chuyển các khoản vay.

Related Post